
Kỳ thực, cả hai quan niệm trên đều không đúng và mang nặng tính cực đoan. Trước hết phải khẳng định ngay rằng: Nhân sâm có thể dùng cho bất cứ lứa tuổi nào, nhưng vấn đề là ở chỗ phải trả lời chính xác hai câu hỏi: Dùng khi nào và dùng như thế nào?
Trong y học cổ truyền, các vị thuốc có công dụng
bổ dưỡng không ít, trong đó có nhiều thứ nổi tiếng như nhân sâm, nhung hươu,
đông trùng hạ thảo, cao hổ cốt, thục địa, đương quy... Nhưng, như cổ nhân đã
nói: "dược tính giai thiên", có nghĩa là thuốc y học cổ truyền nói chung và
thuốc bổ dưỡng nói riêng dều mang tính thiên lệch, có thứ thiên hàn, có thứ
thiên nhiệt, có thứ bổ âm, có thứ bổ dương, bổ khí, bổ huyết khác nhau.
Vậy nên, trong quá trình chẩn trị, người thầy thuốc y học cổ truyền trên cơ sở
nắm vững tính vị của từng vị thuốc phải biết lựa chọn, phối hợp một cách khôn
khéo và hợp lý để đạt được mục đích lấy cái thiên lệch của dược liệu mà điều
chỉnh cái thiên lệch trong cơ thể con người nhằm lập lại cân bằng âm dương, khí
huyết.
Tùy theo tính chất của từng loại dược liệu, y học cổ truyền phân chia thuốc bổ thành 4 nhóm chính: bổ khí, bổ huyết, bổ âm và bổ dương để sử dụng tương ứng cho 4 hội chứng bệnh lý chủ yếu là khí hư, huyết hư, âm hư và dương hư. Nguyên tắc chung trong sử dụng thuốc y học cổ truyền nói chung và thuốc bổ Đông y nói riêng là "hư thì bổ, thực thì tả", chỉ có những người thể chất hư nhược hoặc mắc các chứng bệnh thuộc thể hư nhược mới được dùng các thuốc bổ dưỡng. Nếu không hư mà bổ thì chẳng những tốn tiền vô ích mà thậm chí còn làm phát sinh các rối loạn bệnh lý không đáng có.
Hơn nữa, thuốc bổ khí và bổ dương thường có tính ôn nhiệt, nếu dùng không đúng dễ gây thương tổn âm dịch; thuốc bổ huyết và bổ âm thường có tính hàn lương, nếu dùng không đúng có thể làm tổn thương dương khí. Kết quả đều dẫn đến làm mất cân bằng âm dương, tạo cơ hội cho các quá trình bệnh lý phát sinh và phát triển.
Nhân sâm là một vị thuốc có công dụng đại bổ
nguyên khí, được dùng trong y học cổ truyền từ hàng nghìn năm nay. Trong nhi
khoa Đông y, nhiều chứng bệnh rất cần dùng nhân sâm nói riêng và các loại sâm
khác nói chung như đẳng sâm, cát lâm sâm, tây dương sâm, thái tử sâm... Ví dụ,
khi trẻ bị mắc chứng cam tích (y học hiện đại gọi là bệnh suy dinh dưỡng) ở thể
tỳ vị hư nhược thì phương pháp điều trị phải bổ khí, kiện tỳ, ích vị và bài
thuốc thường dùng có tên là "Sâm linh bạch truật tán", trong thành phần có nhân
sâm hoặc đẳng sâm thay thế; khi trẻ bị mắc chứng huyết hư (tình trạng thiếu
máu, suy nhược cơ thể thường gặp trong giai đoạn hồi phục sau khi mắc các bệnh
lý nội ngoại khoa) ở thể "Khí huyết bất túc" thì phương pháp điều trị phải bổ
khí, dưỡng huyết và bài thuốc thường dùng có tên là "Bát trân thang" hoặc "Nhân
sâm dưỡng vinh thang" trong thành phần bài thuốc cũng có nhân sâm hoặc một loại
sâm khác thay thế. Bởi vậy, đối với trẻ em nhân sâm có thể và cũng rất cần dùng
khi yêu cầu trị liệu đặt ra.
Tuy nhiên, như trên đã phân tích, nếu trẻ em thể chất khỏe mạnh, phát triển
bình thường, không bị mắc các bệnh lý thuộc hư chứng thì nhất thiết không cần
dùng thuốc bổ nói chung và nhân sâm nói riêng. Nếu cần dùng thì trẻ phải được
thầy thuốc chuyên khoa khám xét toàn diện để xác định chẩn đoán chính xác và
xem bệnh lý của trẻ thuộc thể loại bệnh lý nào, từ đó mới lựa chọn thuốc bổ cho
phù hợp.
Chỉ có bệnh lý thuộc thể khí hư mới cần dùng thuốc bổ khí, trong đó có nhân sâm nói riêng và các loại sâm nói chung. Và không chỉ với nhân sâm mà tất cả các thuốc bổ Đông y khác như nhung hươu, cao hổ cốt, đương quy, kỷ tử, hoàng kỳ, thục địa... cũng phải tuân thu triệt để nguyên tắc này.
Bài bình luận
Bình luận