Những “kẻ” cúm quen mặt
Ngày đăng: 25/05/2009
Cơn chấn động toàn cầu do virut cúm A (H1N1) biến đổi gen lại một lần nữa thử thách y học thế giới và cả sự thích nghi với hoàn cảnh sống của loài người. Nhưng không chỉ đấu tranh với sự biến đổi của cúm A (H1N1) mà con người cần phải lường trước được những nguy hiểm của các virut cúm khác.
Rhino virut: Đây là virut gây viêm mũi họng cấp, mã số quốc tế ký hiệu là Joo theo phân loại bệnh danh thống nhất trên thế giới. Bệnh này còn có tên gọi không chính thống là cảm lạnh thông thường (common cold). Ở xứ lạnh, bệnh thường xảy ra vào mùa xuân, còn ở xứ nhiệt đới như nước ta bệnh có tần số xuất hiện nhiều hơn vào mùa mưa và thời tiết lạnh. Cơ chế lây nhiễm là do trực tiếp tiếp xúc với chất dịch tiết ở mũi, họng người mang bệnh, qua đường hô hấp hoặc qua niêm mạc mắt. Biểu hiện của bệnh là viêm long họng, mũi và khỏi trong vòng một tuần. Bệnh không gây tử vong trừ khi trên người có suy hô hấp mạn tính.

Adeno virut: Virut này làm cho người nhiễm bệnh có đủ các dấu hiệu của viêm long đường hô hấp trên đến đau mắt đỏ, sưng hạch, phát ban nhưng nói chung bệnh đều khỏi trừ những người có cơ địa quá nhiều bệnh mạn tính và suy nhược cơ thể trầm trọng.

Corona virut: Loại virut này thường gây bệnh nhẹ kiểu cảm lạnh nhưng do thay đổi gen trở thành một corona virut mới, có sức tàn phá ghê gớm đối với sức khỏe con người, đó chính là hội chứng viêm đường hô hấp cấp, gọi tắt là SARS. Hội chứng này đã gây ra cho loài người một đại dịch khủng khiếp xảy ra ở 32 nước, làm 8.422 người mắc và 916 người tử vong. Việt Nam là nước đầu tiên khống chế được dịch bệnh này.

Đặc trưng thường thấy ở bệnh nhân SARS là sốt cao đột ngột trên 38oC, viêm đường hô hấp trên và dưới, đau ngực, khó thở, đặc biệt là phổi bị tổn thương nghiêm trọng, chính vì tổn thương phổi nặng nề nên tỷ lệ tử vong rất cao.

Những dạng cúm thông thường ở người: Cúm người có 3 chủng A, B, C nhưng gây đại dịch lớn trên thế giới chủ yếu là cúm A. Loài người đã trải qua nhiều đại dịch cúm trong thế kỷ 20, làm hàng chục triệu người tử vong. Sự biến đổi kháng nguyên của virut cúm là sự đe dọa nghiêm trọng đối với cả loài người. Bệnh cúm thông thường thì mấy ai trong đời không mắc phải, đó là tình trạng hắt hơi, sổ mũi, ho khan, viêm họng, nếu không có bội nhiễm và biến chứng bất thường thì bệnh vài ngày sẽ qua. Những thể cúm này không đe dọa đến sinh mạng nhưng với những người có bệnh ở đường hô hấp trên, suy hô hấp mạn tính thì phải chú ý giữ gìn sức khỏe nhiều hơn, tránh tiếp xúc với người mang bệnh, nếu mắc bệnh phải dùng kháng sinh để chống bội nhiễm.


 Vi rút cúm B

Cúm A (H5N1): Biểu hiện của mắc virut cúm A (H5N1) là sốt, ho, tức ngực, suy hô hấp nặng, người bệnh bị tổn thương đa phủ tạng nặng nề, tỷ lệ tử vong cao. Bệnh nhân cúm A (H5N1) thường có tiếp xúc với gia cầm bệnh, như làm thịt, ăn gia cầm bệnh, tiếp xúc với môi trường mang mầm bệnh. Cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm thấy sự lây nhiễm từ người sang người, nhưng đây là điều mà người ta lo ngại nhất vì sự biến đổi của virut là không thể lường hết được. Nếu tình trạng lây từ người sang người xảy ra sẽ có tới vài triệu người tử vong vì căn bệnh này.

Hy vọng ở vaccin: Đối với các loại virut gây viêm đường hô hấp thông thường, chỉ cần vệ sinh sạch sẽ, uống đủ nước, ăn các thức ăn nhẹ, dễ tiêu hóa và sử dụng một số loại kháng sinh chống bội nhiễm. Tuy nhiên cũng cần hết sức cảnh giác với những người có sức đề kháng yếu, có bệnh mạn tính.

Thuốc được dùng chủ yếu cho bệnh nhân cúm là các thuốc kháng virut, có tính ức chế sự sản sinh của virut này đối với cơ thể. Tuy nhiên, các thuốc này như tamiflu chỉ có tác dụng trong vòng 48 giờ tính từ khi có dấu hiệu khởi phát bệnh.

Hiện nay, các bệnh cúm thông thường đã có vaccin, kể cả vaccin riêng cúm A (H5N1) cũng được cấp phép sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Sự bùng phát của cúm A (H1N1) biến đổi gen đang làm các nhà sản xuất vaccin trên toàn cầu chạy đua với dịch bệnh. Quá trình nghiên cứu và sản xuất vaccin thực sự khó khăn, trong khi đó không ai lường hết được khả năng biến đổi của virut này. Nhưng tất cả các bệnh cúm đều có thể phòng tránh nếu thực hiện nghiêm ngặt các yêu cầu mà ngành y tế khuyến cáo.  


Nguồn: Sức khoẻ & Đời sống

Bài bình luận

Bình luận

  • Địa chỉ trang web và địa chỉ thư điện tử sẽ tự động được chuyển thành liên kết.
  • Allowed HTML tags: <a> <em> <strong> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd><br><p><img>
  • Các dòng và đoạn văn bản sẽ tự động được ngắt.

Thông tin thêm về các tùy chọn định dạng

Lưu ý: Để được bác sĩ trả lời các câu hỏi, độc giả vui lòng gửi vào mục hỏi đáp.
7 + 12 =

Gửi bình luận của bạn

  • Địa chỉ trang web và địa chỉ thư điện tử sẽ tự động được chuyển thành liên kết.
  • Allowed HTML tags: <a> <em> <strong> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd><br><p><img>
  • Các dòng và đoạn văn bản sẽ tự động được ngắt.

Thông tin thêm về các tùy chọn định dạng

Lưu ý: Để được bác sĩ trả lời các câu hỏi, độc giả vui lòng gửi vào mục hỏi đáp.
4 + 3 =