Cho
dù ở trên biển, bể bơi hay bồn tắm tại nhà, bạn cũng nên luôn giữ trẻ ở
mực nước có độ sâu chỉ bằng chiều dài cánh tay. Ngay cả khi trẻ bơi
thành thục, bạn vẫn luôn phải giữ con trong tầm kiểm soát.
Nếu
để ý thấy con mình mệt mỏi hay mất phương hướng khi bơi, bạn nên cho
trẻ lên ngay. Những tai nạn trong khi bơi có thể xảy ra bất cứ lúc nào
và chúng càng dễ ập đến hơn nếu trẻ mệt hay lúng túng, hoặc thậm chí
quá lạnh vì ngâm nước.
Khi xuống biển, bạn nên bắt trẻ mang theo phao hoặc mặc áo bơi để đảm
bảo an toàn. Tuy nhiên, những vật dụng ấy không thể thay thế hoàn toàn
việc giám sát của người lớn.
Nếu chúng muốn ngụp lặn dưới biển, bạn cũng nên cho mang giày bơi để
tránh những mỏm đá sắc hay các vật nguy hiểm khác. Ngoài ra, nên quan
sát xung quanh xem có rong biển hay những vật nổi dưới nước không vì
chúng có thể vướng vào chân trẻ khi đang bơi. Không cho trẻ chạy hay
lặn ở những khu vực cấm.
Các công viên nước dường như ngày càng trở nên phổ biến. Nếu bạn cho
con mình tới những nơi đó, bạn cần xem kỹ khu vực nào thích hợp với lứa
tuổi và "trình độ" bơi lặn của trẻ.
Điểm cuối cùng bạn cần lưu ý là lên kế hoạch những việc cần làm trong
trường hợp khẩn cấp. Một chiếc điện thoại bên mình sẽ có ích khi muốn
gọi trợ giúp. Khi có cơ hội, bạn cũng nên tham gia một lớp học cách sơ
cứu nạn nhân để phòng xa.
Trẻ có thể chết đuối trong chậu nước
Bạn đừng nghĩ rằng chỉ nên đề phòng tai nạn ngạt nước khi đưa con đi
bơi hay đến những nơi có ao hồ. Bởi bé có thể gặp tai nạn này ngay
trong nhà khi ngã úp mặt vào chậu nước.
Ngạt nước (còn gọi là đuối nước) là tình trạng ngạt thở do bị chìm
trong nước. Đây là tai nạn thường gặp ở trẻ em, tỷ lệ xảy ra ở trẻ trai
cao gấp hai lần so với trẻ gái. Tai nạn có thể xảy ra quanh năm, nhưng
cao nhất vào mùa hè, từ tháng 6 đến tháng 9. Phần lớn trẻ bị ngạt nước
(72%) được phát hiện muộn và sơ cứu không đúng phương pháp nên dẫn đến
tỉ lệ tử vong và tàn phế do di chứng não rất cao (27%), cao nhất trong
các tai nạn trẻ em.
65% các trường hợp ngạt nước trẻ em xảy ra ở trẻ dưới 3 tuổi. Ở tuổi
này, trẻ mới chập chững biết đi, do vậy có thể ngã chúi đầu vào những
dụng cụ chứa nước như thùng, xô, lu, chậu... mà không thể tự động đứng
lên, thoát ra được, cũng như trọng lượng trẻ chưa đủ nặng để làm đổ
dụng cụ chứa nước. Do đó, nên đậy kín các vật chứa nước, xả hết nước
trong bồn tắm khi không sử dụng.
Ở trẻ lớn trong độ tuổi đi học, ngạt nước thường xảy ra ở ao, sông, hồ,
biển, mương, suối, hào, đầm... Do trẻ không biết bơi lại chơi gần nơi có
nước, rủi ro té ngã xuống nước; hoặc biết bơi nhưng bị hụt hơi, đuối
sức, chuột rút...
Chìm lâu trong nước sẽ gây tổn thương não do thiếu ôxy
- Giai đoạn đầu: Diễn ra trong 4 phút đầu tiên. Khi chìm trong nước,
trẻ thường nuốt nhiều nước vào bụng, hít nhiều nước vào phổi. Nước làm
hư hại lớp màng trong của phế nang, làm phổi không thể trao đổi khí,
dẫn đến tình trạng thiếu ôxy máu. Trong giai đoạn này trẻ bị ngưng thở,
nhưng có thể hồi phục hoàn toàn nếu được vớt lên và hồi sức kịp thời.
- Giai đoạn tiếp theo: Tình trạng thiếu ôxy máu tiếp tục kéo dài sẽ ảnh
hưởng đến tất cả các cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là não và tim.
Thiếu ôxy ở não sẽ gây phù não làm mất tri giác, hôn mê, nếu kéo dài sẽ
dẫn đến tăng áp lực nội sọ, ức chế vùng hành tủy gây ngừng thở. Những
thay đổi tim mạch do ngạt nước được ghi nhận gồm: Khởi đầu là tăng nhịp
tim, sau đó nhịp tim chậm đi, co bóp tim không còn hiệu quả, diễn tiến
đến loạn nhịp tim, đột ngột suy tuần hoàn và ngừng tim.
Trẻ ngạt nước khi được vớt lên thường hôn mê (khi lay gọi, trẻ không
tỉnh), tím tái kèm theo tình trạng ngưng thở (không thấy lồng ngực nhấp
nhô, di động theo nhịp thở), ngưng tim (sờ mạch ở cổ, háng hoặc khuỷu
tay không bắt được mạch).
Cần làm gì khi trẻ ngạt nước
Phải nhanh chóng vớt trẻ lên và cung cấp dưỡng khí ngay bằng động tác
thổi ngạt (hô hấp nhân tạo): Hít thật sâu. Áp miệng thật sát vào mũi và
miệng trẻ (đối với trẻ nhỏ) hoặc thổi miệng qua miệng cho trẻ lớn. Thực
hiện liên tiếp 2 lần, nhìn xem lồng ngực trẻ có di động không, sau đó
thổi theo nhịp 4 giây/lần.
Nếu trẻ có ngưng tim, thực hiện ấn tim. Vị trí ấn tim: Trên mấu xương
ức 1 khoát ngón tay (đối với trẻ nhỏ), 2 khoát ngón tay đối với trẻ
trên 8 tuổi. Tần số ấn tim là 100 lần /phút. Ấn tim đúng khi sờ được
mạch ở nhịp ấn vào.
Ấn tim và thổi ngạt theo nhịp 5/1 cho trẻ nhỏ, có nghĩa là ấn tim 5
nhịp xen kẽ với 1 nhịp thổi ngạt. Ấn tim và thổi ngạt theo nhịp 15/2
cho trẻ trên 8 tuổi, có nghĩa là ấn tim 15 nhịp xen kẽ với 2 nhịp thổi
ngạt.
Thực hiện động tác sơ cứu đến khi có mạch thì ngưng ấn tim, nhưng vẫn
tiếp tục thổi ngạt cho đến khi trẻ tự thở. Sơ cứu tại chỗ được xem là
thành công khi da trẻ hồng hào, tự thở được, tim đập lại, sờ được mạch
rõ, trẻ tỉnh táo.
Sau khi sơ cứu, cần đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế gần nhất. Trẻ ngạt nước
có thể tử vong trên đường chuyển viện, hoặc nhập viện trong tình trạng
rất nặng do thiếu dưỡng khí. Vì vậy, vẫn phải tiếp tục thực hiện các
động tác sơ cứu trong lúc di chuyển trẻ đến cơ sở y tế.
Những sai lầm cần tránh
Xốc nước bằng cách cõng ngược trẻ trên lưng và chạy xa hàng trăm thước.
Động tác sơ cứu này không cung cấp được dưỡng khí và sẽ làm kéo dài
thời gian thiếu ôxy não ở trẻ.
Xốc nước bằng cách đặt trẻ nằm trên chiếc lu, lăn qua lăn lại và đốt
rơm trong lu. Biện pháp này không những kéo dài thời gian thiếu ôxy não
ở trẻ, mà còn có thể làm trẻ bị bỏng ở bụng và chân tay. Đã có trường
hợp trẻ bị bỏng nặng cần phải ghép da và nằm viện hơn 2 tháng.
Không cho cha mẹ đi theo, điều này gây khó khăn, chậm trễ trong điều
trị vì người đưa trẻ đến bệnh viện không nắm rõ sự việc xảy ra.
Nguồn: Giadinh.net
Bài bình luận
Bình luận