
Bởi nhưng người này có một hệ thống thu nhận thông tin tư duy đồng bộ với hệ thống phát thông tin của một người thân nào đó đang mắc bệnh hoặc phải trải qua một cuộc phẫu thuật.
Con mổ - mẹ đau
Một câu chuyện thú vị được kể bởi nhà nghiên cứu thần kinh học người Adecbaizan, G.Corneli trên tạp chí y khoa nước này số tháng 9/2009. Đầu năm 1978, người cô ruột của ông là G. Varlamova sống ở thành phố Kokand, bỗng nhiên cảm thấy rất đau ở vùng ngực trái. Sự đau đớn này kéo dài trong vài ba ngày rồi biến mất. Các khám nghiệm y học kỹ càng đều không phát hiện được bà Varlamova có dấu hiệu rõ rệt nào về nguyên nhân của những cơn đau ở ngực trái đó. Varlamova đã ghi lại chuyện này trong quyển nhật ký của mình rất kỹ càng.
Cuối năm đó, bà Varlamova nhận được thư của con gái đã đi lấy chồng và đang sống ở thành phố Batumi. Trong bức thư, người con gái viết cho mẹ, có kể rằng hồi đầu năm mình phải trải qua một ca mổ nặng và rất đau đớn phía ngực trái vì bị u vú. Khi đó bà Varlamova bỗng nhớ lại những dòng nhật ký và sau khi xem lại bà thấy có sự trùng hợp hoàn toàn về thời gian giữa việc bà bị đau ở ngực trái với việc con gái bà bị phẫu thuật ngực trái. Kể câu chuyện này, G. Corneli muốn khẳng định đã có sự thần giao cách cảm giữa hai mẹ con. Khoảng cách từ Kokand tới Batumi là 2.700km đường chim bay, tuy vậy người con gái đã truyền cảm giác đau đớn của mình đến cho mẹ.
Giới khoa học nói gì?
Theo giải thích của các nhà nghiên cứu và thực hành thần giao cách cảm tài ba của Nga thì câu chuyện trên có thể giải thích rằng sóng điện từ sinh vật có tần số tương ứng với tần số dao động đặc trưng cho cảm giác đau ở ngực trái, phát ra từ não bộ của người con gái bị đau ở Batumi, đã đi tới Kokand, nơi mà trong thời gian ấy, bà mẹ đang sống ở đó. Tế bào hạch ở não bà mẹ, giống như một bộ tách sóng, đã thu nhận làn sóng trên và tạo thành trong mạch kín của các dây thần kinh ở ngực trái bà một dòng điện hoạt động với tần số tương ứng. Kết quả là đã xảy ra sự rung động của các tế bào thần kinh ở vùng cuối cùng của các dây thần kinh ở ngực trái người mẹ. Nhờ sự rung động này mà ở cơ quan phân tích cảm giác trong não bộ người mẹ đã thu nhận được kích thích đau đớn dưới dạng dòng điện sinh vật tương ứng với kích thích đi vào cơ quan phân tích trong não bộ người con gái. Kích thích này kèm theo sự phân tích và tổng hợp của cảm giác đau đớn trong não bộ người mẹ khiến bà có cảm giác đó là sự đau đớn của chính mình. Trong quá trình này, đường dây thần kinh hướng tâm và ly tâm ở người mẹ (thu vào não bộ và phát ra cảm giác đau đớn ở ngực) đóng vai trò dây dẫn thần kinh hoạt động. Hai chuỗi nơ-ron này hợp thành một mạch dao động kín. Trong mạch hai chuỗi nơ-ron đó có solenoid, tụ điện, đền điện tử và nguồn năng lượng (hạt nixơ trong nhân tế bào hạch).

Thông thường, khi một người nào đó rơi vào tình trạng đau đớn hoặc hoàn cảnh nguy kịch thường nghĩ đến những người thân yêu nhất của mình. Lúc đó, một sóng điện từ sinh vật với tần số tương ứng với cảm giác đang có sẽ được phát ra ngoài. Sóng dao động năng lượng tư duy do hệ thần kinh phát ra sẽ lan truyền đi khắp mọi phía và tạo thành ở mỗi điểm trong không gian chung quanh một trường năng lượng điện từ biến đổi. Mỗi điểm của không gian này dưới tác dụng của sóng năng lượng tư duy sẽ có điện thế thay đổi. Vì vậy trên đường đi, nếu sóng năng lượng tư duy gặp vật chất thích hợp (của người nhận, mà thường là những người thân thiết, cùng huyết thống) thì các sóng này tạo cảm ứng ra các dòng dao động đặc trưng cho thông tin tư duy đã phát ra ở cơ thể người nhận. Nhờ tốc độ sóng tư duy lan truyền bằng tốc độ ánh sáng (hoặc nhanh hơn) nên khoảng cách giữa hai hệ thần kinh phát và thu của hai người coi như bằng không. Khi đó thông tin tư duy phát ra dưới dạng sóng điện từ dao động, thâm nhập vào môi trường của các phần não bộ. Trước hết nó đi qua hệ thống "vi ăng-ten" và hàng loạt bộ phận thu nhận khác, sau đó theo luật cảm ứng, phát sinh ra sự biến đổi về việc di chuyển và tập hợp lại các phần tử vật chất của não bộ, giống như lúc não bộ của người phát đã nảy sinh tư duy đó. Do hậu quả tư duy thu được trong não bộ người nhận mà phát sinh các hình ảnh về thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác... và cuối cùng là một phức hợp tư duy.
Cần nhớ rằng các dòng cảm ứng thường có biên độ dao động nhỏ cho nên không phải mọi hệ thần kinh đều có thể phát hiện và thu nhận được chúng, mà chỉ những hệ thần kinh nào có chu kỳ dao động riêng của các sóng trùng với tần số dao động của sóng não người phát, nghĩa là được điều chỉnh một cách đồng bộ thì mới nhận được thông tin tư duy. Đồng thời trong thời gian đó não bộ của người nhận phải ở trạng thái thoải mái, nghỉ ngơi, thư giãn.
Một chức năng sống cần thiết
Việc truyền thông tin tư duy qua khoảng cách là một trong những chức năng sống của hệ thần kinh động vật có xương sống. Sự phát bức xạ đi ra ngoài từ tế bào não của người con gái, sau khi đến vùng có não của bà mẹ thì nó sẽ chiếu vào não bà mẹ, tức nó đóng vai trò bức xạ đâm xuyên tạo nên cấu hình đặc biệt của AND, nghĩa là nó đã làm biến đổi sự phân bố các nhóm nguyên tử trong sợi AND người mẹ sao cho giống như trong tế bào của não bộ người con gái. Kết quả của sự bức xạ đâm xuyên từ bên ngoài này là những cái mà chúng ta quen gọi là sự truyền thông tin tư duy qua khoảng cách hay còn gọi là điều vận cách không, thần giao cách cảm.
Theo các nhà khoa học, khả năng truyền tư duy qua khoảng cách có thể tập luyện và thực hành được. Giới khoa học cũng cho rằng, khả năng này vô cùng cần thiết cho sự phát triển xã hội loài người hiện nay. Chúng ta có thể triển khai các khóa huấn luyện và ứng dụng nó, điều đó rất có ích trong kỷ nguyên phát triển các cuộc du hành của con người sang các hành tinh khác.
Bài bình luận
Bình luận